Ô nhiễm không khí chính bên trong nhà
Ô nhiễm không khí trong nhà 1.1.1 Giới thiệu ô nhiễm không khí trong nhà Ô nhiễm trong nhà đƣợc định nghĩa là sự ô nhiễm khi “có sự hiện diện của các chất ô nhiễm có tính chất vật lý, hóa học hoặc sinh học trong không khí của các môi trƣờng bị giới hạn, mà các chất này không hiện diện một cách tự nhiên với số lƣợng lớn trong không khí ngoài trời của hệ sinh thái” (Bộ Môi trƣờng Ý, 1991) Nguồn gốc và ảnh hưởng đến con người Thành phần không khí bên trong một căn nhà cơ bản cũng giống nhƣ thành phần không khí bên ngoài, nhƣng khác về số lƣợng và lọai chất ô nhiễm. Đối với những chất ô nhiễm bên ngòai, phải tính thêm tất cả những tác nhân gây ô nhiễm phát sinh bên trong ngôi nhà. Có thể đƣợc chia thành các nhóm sau đây: Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi: hợp chất hữu cơ dễ bay hơi bắt nguồn chủ yếu từ các dung môi và các chất hóa học. Nguồn gốc chủ yếu trong nhà là nƣớc hoa, keo xịt tóc, nƣớc đánh bóng đồ dùng trong nhà, chất làm thoáng mát không khí, thuốc diệt côn trùng (muỗi, kiến, gián…), chất bảo quản gỗ, và nhiều sản phẩm sử dụng trong nhà. Bộ phận chủ yếu của cơ thể chịu ảnh hƣởng là đôi mắt, mũi, họng. Trong nhiều trƣờng hợp gay gắt hơn có những bệnh nhƣ đau đầu, buồn nôn và làm mất tập trung. Trong một thời gian dài, một số chất ô nhiễm còn có thể gây nguy hiểm tới gan và nhiều bộ phận của cơ thể. Khói thuốc lá: khói thuốc lá phát ra một phạm vi rộng có chứa các chất hóa học nguy hại và gây ung thƣ. Khói thuốc lá gây ảnh hƣởng tới cả ngƣời không hút thuốc nhƣng lại ở cùng phòng với ngƣời hút thuốc nhƣ rát mắt, mũi, và rát họng gây nên các bệnh nhƣ viêm cuống phổi, hen và làm suy giảm chức năng của phổi. 8 Chất ô nhiễm sinh học: chất ô nhiễm sinh học bao gồm bào tử vi khuẩn từ các cây, các con bọ, lông của các con vật nuôi, nấm, ký sinh trùng và một số vi khuẩn. Phần lớn chúng gây dị ứng và có thể gây ra các bệnh hen suyễn, sốt và một số bệnh dị ứng khác. Formanderhyt: formanderhyt là khí chủ yếu từ những tấm thảm, bàn ăn và phao bọt. Khí này gây rát mắt, mũi và nhiều bệnh dị ứng ở một số ngƣời. 1.1.2 Tình hình ô nhiễm trong nhà Chúng ta thƣờng nghĩ rằng ô nhiễm không khí cục bộ là vấn đề gây ra bởi công nghiệp hoặc giao thông nhƣng ô nhiễm trong nhà có thể cao hơn nhiều lần so với ô nhiễm ngoài trời. Trong khoảng 30 năm trở lại đây, ngƣời ta đã quan tâm nhiều hơn đến việc giảm ô nhiễm trong nhà, nhƣng chỉ gần đây cộng đồng khoa học quốc tế lo lắng về việc giảm ô nhiễm không khí của những môi trƣờng khép kín. Nếu biết thời gian mà một ngƣời sử dụng trong một môi trƣờng kín là rất lớn (90%), chúng ta sẽ hiểu vấn đề ô nhiễm trong nhà có tầm quan trọng hàng đầu. Các nghiên cứu của Mỹ và châu Âu cho thấy con ngƣời ở các nƣớc công nghiệp dành hơn 90% thời gian của họ ở trong nhà. Nồng độ của nhiều chất ô nhiễm trong nhà vƣợt nồng độ của chúng ở ngoài trời. Cơ quan Bảo vệ Môi trƣờng Mỹ nghiên cứu sự phơi nhiễm của con ngƣời đối với các chất ô nhiễm trong không khí chỉ ra rằng nồng độ trong nhà của các chất ô nhiễm có thể cao hơn 2-5 lần và đôi khi cao hơn 100 lần so với nồng độ ngoài trời. Các địa điểm đƣợc quan tâm nhiều nhất là những khu vực mà sự phơi nhiễm kéo dài, liên tục, đó là nhà ở, trƣờng học và nơi làm việc. 9 1.2. Tình hình ô nhiễm tầng hầm giữ xe Bãi giữ xe tầng hầm từ lâu đã đƣợc đƣa vào sử dụng trên thế giới. Nó nhằm tiết kiệm không gian và diện tích, khi quỹ đất con ngƣời ngày càng trở nên khan hiếm, hẹp dần. Vì đƣợc xây dựng ở tầng hầm nơi thấp nhất của tòa nhà và thƣờng thấp hơn so với mặt đất phía trên, nên các bãi giữ xe này thƣờng rất kín và ngôt ngạt. Nhƣng lại có thể chứa một số lƣợng xe rất lớn. Vì vậy chúng thƣờng ẩn chứa những nguy cơ tiền ẩn đến sức khỏe của con ngƣời. Ví dụ một bãi giữ xe tầng hầm của trung tâm thƣơng mại Lê Thánh Tôn Quận 1 có tổng cộng 3 bãi giữ xe với diện tích lên đến 8.000 mét vuông, với sức chứa 2.200 xe máy và hơn 100 ô tô. Nếu các xe đó đồng loạt vào cùng một thời điểm thì hàm lƣợng khí CO sẽ lên đế mức tối đa. Tuy nhiên thông thƣờng một bãi giữ xe thƣờng có tới hai lối thoát hiểm và hai lối ra vào bên trong tòa nhà, các hệ thống thông gió nhắm làm giảm ngột bên trong, cung cấp khí ô xy và sự trao đổi tuần hoàn đối lƣu của các dòng khí. Nhìn chung chúng khá an toàn và là một dạng giữ xe còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Nên việc nghiên cứu, khảo sát về chất lƣợng cũng nhƣ độ an toàn của nó thật sự khi đi vào sử dụng vẫn còn rất ít ỏi. Trên thế giới, vấn đề ô nhiễm không khí ở các tầng hầm giữ xe rất đƣợc quan tâm và đã có nhiều nghiên cứu khảo sát về vấn đề này. Từ năm 1964, Trompeo và các cộng sự đã tiến hành khảo sát 12 tầng hầm giữ xe tại Turin, Italy nhận thấy nồng độ CO rất cao (98 ppm). Năm 1967, Chovin tiến hành đo nồng độ CO tại tầng hầm giữ xe ở Pháp, nồng độ CO dao động từ 80-100 ppm, các giá trị trên đƣợc ghi nhận trong điều kiện hệ thống thông gió hoạt động rất yếu Tại một tầng hầm giữ xe phía đông Baltimore, nghiên cứu nồng độ các chất khí ô nhiễm liên quan đến các phƣơng tiện giao thông nhƣ CO, toluene, benzene, ethylbenzene đã cho thấy nồng độ các khí gia tăng cùng với số lƣợng xe có trong tầng hầm, những ngày trong tuần có nồng độ cao hơn ngày cuối tuần do số lƣợng xe nhiều hơn (Sung R. Kim et al., 2007).